Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Kỹ thuật trồng trọt quýt dùng làm thức ăn , trồng cam

I. KỸ THUẬT TRỒNG CAM , QUÝT CHO THU HOẠCH CAO

1. Cách để quýt sai quả.

Vào tháng chạp có khả năng tìm một con chuột to , rồi đem ngâm vào hố phân , khi con chuột trương lên thì đem trộn vào gốc cây ( phải chôn chặt để tránh gây ô nhiễm môi trường ). Bằng cách này có khả năng làm cho quýt ra dồi dào quả mà chất lượng quả thì rất cao.




2. Cách xây dựng vườn trồng cam , quýt.
a. Chọn giống cây


Cam , quýt có khả năng trồng được cả ở đất bằng và đồi núi , nhưng trồng ở đồi núi thuận lợi hơn trồng ở đất bằng , đất đồi núi thoát nước tốt , bộ rễ của cây dễ phát triển , cây lớn khỏe , tuổi thọ dài , thoáng gió và tắm nắng tốt , quả có kiên cố , ít sâu bệnh , bảo quản được lâu. Tuy nhiên , lập vườn trồng cam quýt trên đồi núi , địa hình địa mạo Rắc rối , sự biến chuyển của tầng đất và độ dốc nhanh , đất dễ bị rửa trôi , giữ đất và nước là yếu tố quan trọng , nên làm đồng bậc thang hoặc phải đào hố vảy cá.
Lập vườn cam , quýt trên núi nên chọn nơi có độ cao khoảng dưới 800 m so với mực nước biển , độ dốc sườn khoảng dưới 300C , lớp đất mặt dạn mày dày , xốp , pH 5 , 5-5 , 6 , có nguồn nước dồi dào là tốt nhất. Nơi bình nguyên hoặc ruộng nước cũng có khả năng lập vườn cam , quýt , nhưng phải đào rãnh thoát nước , giảm bớt lượng nước ngầm , tránh tích nước làm thối rễ.
b. Cải tạo đất
Vườn cam , quýt mới lập trên vùng đất đồi núi thường có lớp đất Cày cấy mỏng , nghèo chất dinh dưỡng , sau khi làm được ruộng bậc thang từ 1-2 năm phải tiến hành cày sâu , tăng cường bón phân hữu cơ , cải tạo thổ nhưỡng. Trước khi cày sâu , cứ 666 , 7  m 2  bón 2500-3000 kg phân xanh và 25-30 kg phân lân , cày sâu 20-30 cm cho hết thảy vườn cây.
Cải tạo đất cho mỗi gốc cây , có khả năng dùng biện pháp đào hào , tức thị chứng cứ vào khoảng cách giữa các hàng , ở trung tâm của mỗi hàng mở một hào sâu và rộng chừng 1m , trong hào bón phân xanh và phân hữu cơ , sau 3-4 tháng có khả năng tiến hành trồng trọt , trước khi trồng 5-10 ngày bón thêm 10 kg phân hữu cơ đã ủ và 0 , 25 kg phân lân vào mỗi hố , nhớ trộn đều với lớp đất trên mặt.
c. Trồng trọt con
Cam , quýt tương đối thích bóng râm , thích hợp với trồng dày và thấp , khoảng cách cây và hàng là 3 x 4m.
Cam , quýt có khả năng trồng được quanh năm , quan trọng là phải trồng sau khi chồi cây đã già và trước khi cây đâm chồi đợt kế tiếp , có hai vụ trồng Ấy là vào vụ xuân và vụ thu. Ở miền Bắc thường trồng vào tháng 2-3 và tháng 10-11. Tốt nhất là khi nhổ cây con từ vườn ươm đem trồng trong vườn nên có bầu đất , nếu không có đất thì phải lấy bùn nhão bọc rễ. Khi trồng , đặt cây con vào giữa hố đã được đào sẵn , bộ rễ được rải hoàn toàn dễ chịu , đắp đất xong thì hơi nhẹ tay kéo cây con lên một tẹo. Trồng xong phải tưới nước , cắm cành chống đổ , phủ rơm cỏ quanh gốc để giữ độ ẩm cho đất , ngắt bớt một phần lá và cành yếu , để tăng tỉ lệ sống cho cây.
3. Kỹ thuật trồng cam quýt thấp cây , mật độ dày và sản lượng cao
a. Chăm nom và quản lý cây cam , quýt thời kỳ đầu
- Quản lý: Việc quản lý trước khi cây ra quả chính yếu tập kết vào chăm nom bộ rễ của cây phát triển tốt và tán lá mở mang , đậu quả sớm.
- Chăm sóc: Nhổ cỏ , xáo đất , che phủ Đại địa quanh gốc dưới bóng cây , xúc tiến rễ cây tăng trưởng và phát triển. Trong năm thứ nhất , chính yếu dựa vào phân nước , bón ít nhưng bón thường xuyên; vào khoảng trước và sau khi cây ra lộc xuân , lộc hè và lộc thu thì bón thúc 2 lần , để xúc tiến cây to ngang và mọc ngọn mới , phát triển tán cây. Mỗi lần bón 0 , 05- 0 , 1kg Urê và phân hỗ hợp hoặc 10 kg phân loãng cho mỗi gốc. Từ năm thứ hai trở đi , dần dần tăng lượng phân bón lên. Trong thời kỳ cam , quýt sinh trưởng , nếu có cỏ dại mọc quanh gốc cây phải kịp thời nhổ bỏ , đất phải luôn tơi xốp và được che phủ bề mặt , tạo điều kiện thuận lợi cho rễ cây phát triển.
- Kịp thời loại bỏ mầm và tỉa cành: Cam , quýt sau khi trồng , ở gốc và cành thường mọc ra những cành tăm không có quy luật , ảnh hưởng đến thế cây , từ thời gian này cần kịp thời loại bỏ. Việc cắt tỉa chỉnh hình cho cây non chính yếu tiến hành khi cây phát lộc chồi , mỗi năm cây cam , quýt có khả năng phát lộc cành từ 3-4 lần , để mở mang tán cây. Với những chồi xuân , chồi hè hoặc chồi thu mà ra lẻ tẻ thì phải lập khắc cắt bỏ , đợi đến khi 80% chồi non đều ra nhất loạt thì mới tiến hành cắt tỉa và để lại những ngọn mọc trật tự. Cây ra chồi nhất loạt có phẩm chất cho việc dùng thuốc để canh gác ngọn. Đối với những cành giao nhau , những cành quá dài thì phải cắt bỏ , để nuôi dưỡng thế cây.


Cây quýt đường giống và trái quýt chín 

b. Chăm nom và quản lý khi cây cam , quýt ra quả
- Đào rộng hỗ cây để cải tạo đất: Đào rộng hố trồng để cải tạo đất có khả năng tiến hành vào mùa đông , phối hợp với việc dọn vườn và chôn sâu cỏ dại , lá khô , cành khô , hoặc tiến hành vào mùa hè thì kết họp với bón phân xanh cho cây.
- Bón phân và tưới nước hợp lý: Bón phân phải chứng cứ vào từng thời kỳ sinh trưởng của cây mà tiến hành , quan trọng phải nắm được 4 thời điểm:
+ Bón thúc đâm chồi ra hoa: Bón trước khi ra hoa khoảng 1 tháng ( tháng 2 đến tháng 3 ). Mỗi gốc bón 100 kg Urê pha với nước phân mục hoặc 25 kg nước bánh dầu pha loãng. Thời kì ra chồi xuân bón phần cho lá 1-2 lần , liều lượng là Urê 0 , 3% và hỗn hợp dung dịch Borax 0 , 2%.
+ Bón thúc đậu quả: bón sau khi hoa tàn , mỗi gốc bón 100g Urê và 200g KCl. Thời kỳ quả non phun 0 , 2% Urê hoặc 0 , 3% MPK cho lá 1- 2 lần.
+ Bón thúc đâm chồi nuôi quả: lần bón này là cơ sở cho việc quyết định sản lượng cao và ổn định , bón đậm phân để thúc ra chồi thu , tạo cơ sở cho năm sau cây nối tiếp ra hoa ổn định , song song thúc cho quả to , nâng cao năng suất và chất lượng quả của năm nay. Cuối tháng 6 đầu tháng 7 , bón phân phối hợp với xới lật đất , mỗi gốc bón 100g Ure + 250 g KCl + 20kg phân lợn + 500g lân.
+ Bón trước trổ hoa 6 tuần: 1/3 lượng đạm + 1/3 lượng kali.
+ Bón lúc quả lớn bằng ngón tay cái: 1/3 lượng đạm + 1/3 lượng kali.
Tùy theo đặc điểm đất đai ở từng vùng , có khả năng tăng giảm lượng phân bón cho thích hợp. Cần chia phân ra bón Hai ba lần , để chống rữa trôi mất phân. Khi bón , nhớ đào hố hoặc cuốc rãnh nông Thay phiên xung quanh tán cây. Hàng năm , nên bón Sửa sang phân vi lượng cho cam , quýt như Zn , Mg , Mn trong trường hợp bón ít phân chuồng. Để giảm cảnh tượng rụng hoa quả , cần dành 2/3 lượng phân bón trước khi cây ra hoa. Thực hiện việc bón đón hoa , phối hợp với phun bón lá , góp phần tích cực giữ lại rụng hoa quả sau này.
+ Bón trước khi hái quả: Tiến hành bón trước khi thu hoạch 20-25 ngày , mỗi gốc bón 150-200g phân tổng hợp hoặc 100-150g KC1 , 150-250g lân , 500g phân bánh dầu.
Cách bón phân: Bón bên ngoài tán cây. Biện pháp gồm bón theo rãnh tròn , bón theo rãnh xòe , bón theo rãnh thẳng , bón vãi khắp vườn. Bón theo rãnh tròn thì đào rãnh theo đường tròn viền tán cây trên Đại địa , rãnh rộng từ 30-50 cm , sâu 20-30 cm , cho phân và đất bón vào trong rãnh , rồi lấp đất bằng lên.
Bón theo rãnh xòe tức thị dưới tán cây cách thân cây 1 mét , đào 6-8 rãnh xung quanh cây , chĩa ra phía ngoài theo hướng rễ cây mọc , rộng 30-50 cm , sâu 20-40 cm , rãnh đào theo kiểu trong sâu ngoài nông , trong hẹp ngoài rộng. Bón rãnh thẳng , giữa các hàng cây hoặc giữa các gốc cây đào đường rãnh , rãnh rộng và sâu khoảng 30cm , thích hợp cho cây đã trưởng thành. Biện pháp bón phân khắp vườn thường áp dụng trong những vườn cây ăn quả mà rễ cây đã lan tỏa rộng , đi hàng đầu rải đều phân bón ra khắp vườn , sau đó lật vào trong đất khoảng 20-30cm. Các biện pháp này có khả năng thay nhau tiến hành trong 1 năm. Cam , quýt là loại cây cần nước ở mức làng nhàng , gặp phải mùa khô như ngói phải kịp thời tưới nước , đặc biệt là thời kỳ ra quả. Nhưng trước khi thu hoạch từ 15-20 ngày phải khống chế lượng nước , nâng cao chất lượng quả.
+ Bón sau thu hoạch: Bón phục sức cho cây , giúp cây phân hóa mầm hoa: Vôi + hết thảy phân chuồng + hết thảy phân lân + 1/3 phân đạm +1/3 phân kali.
+ Giữ hoa , giữ quả: Giữ hoa , giữ quả là một biện pháp kỹ thuật quan trọng để quýt có được sản lượng cao và ổn định. Khi hoa nở trắng , phun một lần thuốc kích thích ra hoa và phân cho lá , liều lượng như sau: thuốc “920” 0 , 002% + MPK 0 , 2% + Borax 0 , 2% + zinc vitriol 0 , 2% + thuốc phân chia tế bào pha loãng 800 lần. Khi hoa rụng được 2/3 , phun lần hai cho cây cam đường với lượng 2 , 4 D 0 , 0005% + Urê 0 , 3% + MPK 0 , 3% , sau đó 5-7 ngày dùng Urê 0 , 3% + MPK 0 , 3% phun lần ba , công hiệu giữ quả rất rõ rệt. Song song phải loại bỏ một phần ngọn chồi xuân và hết thảy ngọn chồi hè , giảm bớt sự mất mát dinh dưỡng , có phẩm chất cho việc giữ quả.
- Tăng cường phòng trừ sâu bệnh: Những loại sâu bệnh có hại chính yếu của cam , quýt là: bướm cắn lá , ấu trùng ruồi trong hoa , nhện đỏ , nhện rỉ sét , rệp , bệnh lở loét , bệnh thán thư , bệnh rồng vàng...
Bướm cắn lá chính yếu đặt vào thế bất lợi cho lá non , khi ngọn vừa mới ra phải phun thuốc , thuốc thường dùng: Clocythrin 25% , Fenvalerate 20% , Fenpropathrin 20% , pha loãng ra 6000 đến 10000 lần. Nhện đỏ có hại cho lá , nhện rỉ sét chính yếu hại cho quả và mặt lá , dùng biện pháp phòng trừ tổng hợp là chính , sau khi thu hoạch phải làm vệ sinh vườn mùa đông , trong thời kỳ sâu bệnh nảy sinh , có khả năng trị bằng thuốc Propargite , Amiưaz , Nissorum... Thời công hiệu tương đối tốt. Rệp thì có khả năng dùng Buprofezin , Chlorpyriíbs , Isocarbophos để phòng trừ. Bệnh lở loét có khả năng dùng dung dịch Bordeaux mixture , Carbendazim , Methyl để điều trị. Bệnh rồng vàng là loại bệnh mang tính hủy diệt , chính yếu truyền qua đường ghép cành , cây non và rận trong cam quýt làm nên. Biện pháp phòng trừ là tiến hành kiểm dịch một cách nghiêm nhặt , tăng cường thẩm tra và giám sát thân cây , tăng khả năng kháng bệnh , phát hiện cây bị bệnh phải lập khắc đào bỏ và tiêu hủy , tránh mầm bệnh lây lan.





Cây quýt đường trồng chậu có trái

Cung cấp cây giống quýt đường  17.000đ/cây giao hàng cả nước
Thế Giới Cây Giống. since 1993
-- 20 năm tuyển chọ giống cây trồng --

địa chỉ : Ấp 14 , xã Long Trung , huyện Cai Lậy , tỉnh Tiền Giang
0906194819 Hòa ( phụ trách Cả nước )
Chi nhánh Miền Đông : Ấp 3 , xã Trừ Văn Thố , huyện Bến Cát , tỉnh Bình Dương
0988868620 Nhẫn ( phụ trách Đông nam bộ )
http://caygiongbuoi.blogspot.com/


http://www.thegioicaygiong.com/

Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2014

Kỹ thuật trồng và nhân giống cây bơ sáp


cung cấp cây giống bơ sáp da xanh 19.000đ/cây , giao hàng cả nuớc,  0988868620 Nhẫn


I. Phương pháp nhân giống Bơ



Cây bơ có tính tạp giao rất mạnh giữa các giống nên vấn đề nhân giống hữu tính (bằng hạt) không phải là phương pháp tối ưu. Do đó vấn đề đặt ra cho công tác giống cây bơ là tìm ra các phương pháp nhân giống vô tính có hiệu quả nhất. Có thể kể đến các phương pháp sau:










1. Giâm cành: Phương pháp này đã được nghiên cứu thực hiện. Cây bơ có thể ra rễ và có thể không cần phun sương mù, nhưng kỹ thuật phức tạp chưa thông dụng và phổ biến nên cách làm này ít áp dụng.



2. Chiết rễ: Theo Nguyễn Cao Ban (1956), bơ có thể nhân giống vô tính bằng cách chiết rễ. Cách làm như sau: trên mặt đất, chung quanh gốc cây mẹ, chọn những rễ có đường kính cỡ 1cm, khía một đoạn vỏ, tách bỏ để làm gián đoạn mạch dẫn. Sau một thời gian, đoạn rễ sẽ đâm chồi và được đánh đi trồng. Phương pháp này sẽ làm tốn sức cây mẹ, gây bệnh cho rễ và hệ số nhân giống thấp nên ít khi áp dụng.



3. Ghép cây: kỹ thuật đơn giản như đối với một số loại cây ăn quả khác. Thường áp dụng hai cách ghép mắt và ghép cành; nếu ghép cành thì cành ghép thường là cành có ngọn. Tỷ lệ sống của phương pháp ghép này thường đạt 70-90%. Tốt hơn hết nên chọn những giống kháng bệnh thối gốc rễ làm gốc ghép để đạt hiệu quả kinh tế cao trong việc nhân giống trồng trên quy mô lớn. Ngoài việc phối trí để có bộ giống thích hợp, cần chọn cây mẹ lấy cành ghép có các đặc điểm năng suất cao và ổn định, không có xu hướng ra trái quá sức, trái cỡ vừa, phẩm chất ngon, thích nghi với khí hậu địa phương, có khả năng kháng bệnh...



Trong các phương pháp nhân giống vô tính trên đây, phương pháp ghép cây hiện nay được xem là phổ biến và có hiệu quả nhất.









II. Cách trồng và chăm sóc bơ



Bơ là cây to, đặc biệt giống Ăngti, nên ở các vùng thấp như­ Đông Nam Bộ, nên trồng cách nhau 8m, 10m. ở Lâm Đồng, Đắc Lắc độ cao 400 - 500 m trở lên có thể trồng dày hơn một chút.



Khí hậu miền Nam nói chung là nóng và ẩm và trồng bơ trư­ớc hết phải chú ý vấn đề thoát nư­ớc, vậy nên chọn các đất dốc. Khi bỏ phân vào hố, phải dùng phân hoai, sạch vì bơ rất dễ bị bệnh Phytophtora và phân chưa hoai, có thể mang mầm bệnh. Phải đào hố vào khoảng tr­ước Tết, để trồng vào đầu mùa m­ưa, đất kịp ải, phân kịp hoai, cây khoẻ ít bệnh. Trồng xong, phải chăm t­ưới những ngày đầu để cây chóng bắt rễ. Bơ có bộ rễ ăn nông, nên mặt đất phải sạch cỏ.



Những năm đầu cây còn nhỏ, có thể trồng xen một số cây hàng năm chỉ làm cỏ quanh gốc. ở miền Nam, mùa khô gay gắt, nên những năm đầu tủ gốc bằng rơm rạ, cỏ khô, xơ dừa, vừa chống cỏ, vừa giữ ẩm.



1. Tưới nước: chỉ cần vào mùa khô, vì quả lớn trong vụ khô. Bơ dễ bị bệnh rễ, tránh t­ưới bồn là ph­ương pháp vẫn dùng ở miền Nam mà chỉ dùng vòi, tốt nhất là phun mưa nh­ưng với l­ượng nư­ớc vừa phải.



2. Phân bón: rất cần vì bơ lấy đi từ đất nhiều chất dinh dưỡng. Theo Avilon (1986) một sản lư­ợng bơ là 14.386 kg/ha lấy đi khoảng 40kg N, 25kg P2O5, 60kg K2O, 11,2kg CaO và 9,2kg MgO. Phân đạm th­ường có tác dụng lớn nhất đối với bơ. Nói chung, bơ non ch­a ra quả thì bón NPK theo tỷ lệ 1:1:1 và cây lớn có quả thì tỷ lệ đó là 2:1:2.



Bón phân chuồng bao giờ cũng có lợi và bón vào sau vụ thu hoạch tháng 7, 8. L­ượng bón khoảng 10 tấn/ha và vẫn phải bón phân hoai.



3. Đốn tỉa: chủ yếu là vườn ương, với mục đích tạo hình, những giống bơ chủng Ăngti, sinh trưởng ngọn mạnh nên bấm ngọn, tạo cành khung khoẻ.



Khi cây đã lớn, đương ra quả không nên đốn nhiều vì làm giảm sản l­ượng. Chỉ cắt bỏ những cành sâu bệnh, những cành vượt mọc từ thân chính, cành gãy do gió mạnh, do mang nhiều quả. Cũng có những cây bơ chủng Ăngti mọc quá cao khó thu hoạch, phải đốn ngọn, cho phát triển về chiều ngang.



4. Phòng trừ sâu bệnh:



- Sâu: không gây thiệt hại nghiêm trọng. Một số bọ trĩ hại lá, rệp sáp hút nhựa, mọt đục thân và cành khung, trên quả có nhện đỏ. Thiệt hại thường nhẹ. Phòng trị không mấy khó khăn, nh­ưng phải phát hiện sớm, năng thăm vườn bơ.



- Bệnh: bệnh nguy hiểm nhất cần cảnh giác là bệnh thối rễ do nấm Phytophtora gây ra. Cây bơ trồng trên đất nặng khó thoát nước, trên đất pH cao hay bị bệnh nhất. Đã có nhiều tìm tòi về các phương pháp phòng trị vì bệnh này gây hại lớn, làm chết cả cây và từng mảng vườn.



- Cách trị triệt để: tìm các gốc ghép chống bệnh, nhưng đến nay chư­a có kết quả cụ thể. Có gốc ghép chống chịu đ­ược nhưng tiếp hợp khó khăn; có gốc ghép tiếp hợp dễ nhưng chống bệnh yếu.



- Phòng trị hoá học: Trong thời gian 1970 đến 1974 ở Viện Quả Hải ngoại của Pháp dùng Dixono t­ới vào gốc một số cây, theo từng thời kỳ đã đ­ược xác định trước, số cây chết có giảm đi nhưng vẫn chưa ngăn cản được bệnh. Dùng Ridomil trộn với đất tr­ước khi trồng (1g chất hữu hiệu cho 10 kg đất, hoặc tưới lên mắt đất quanh cây bơ con chư­a ra quả có thể phòng đ­ược bệnh thối rễ ít nhất 4 tháng.



Để phòng bệnh thối rễ do Phytophtora, nên áp dụng các biện pháp tổng hợp sau đây:



- Chọn giống, tìm các gốc ghép chống chịu.



- Dùng các hoá chất diệt nấm phun lên cây (phun và trộn với đất để làm cho nấm phát triển chậm lại).



- Chọn đất kết cấu tốt, thoát nước nhanh, pH = 6 hoặc dưới 1 chút.



- Trồng bằng cây giống không bệnh.



- Nước tưới cây sạch, không tưới thẳng vào gốc cây.



- Trồng cây trên những ụ đất cao hơn chung quanh khoảng 30 cm.



- Phát hiện trên thân cây gần mặt đất những vết thối do nấm thì cạo sạch. Quét vôi trộn phèn xanh hoặc thuốc chống nấm.





5. Thu hoạch - tiêu thụ:



Xác định thời gian thu hoạch bơ khó vì quả bơ chín không khác gì quả bơ xanh, trừ tr­ường hợp ở một số giống vỏ chuyển sang màu đỏ. Thu hoạch bơ xanh, dù để lâu không chín thêm, vỏ chỉ răn lại, thịt không mềm, mà cứng như cao su. Ng­ười trồng bơ thường chờ đến khi có vài ba quả tự rụng rồi hái hết cây, chỉ để lại những quả bé, vỏ còn xanh. Phương pháp này tuy chưa chính xác nh­ưng dễ áp dụng. ở các trại thí nghiệm xác định độ chín bằng cách phân tích tỷ lệ dầu, rồi đối chiếu với tỷ lệ dầu khi chín để thu hoạch. Cũng có thể xác định tỷ lệ chất khô (105oC trong 3 giờ).


Thu hoạch bằng sào, bằng rọ. Có khi ngư­ời ta leo lên cây rồi rung từng cành nhỏ. Quả nào chín thì rụng.



Quả bơ không chín trên cây. Sau khi thu hoạch tuỳ điều kiện, có thể bảo quản đ­ược một thời gian dài hay ngắn, như­ng cũng không quá vài tuần lễ.



Độ nhiệt bảo quản từ 5 - 13oC tuỳ giống. Giống chịu lạnh bảo quản ở nhiệt độ thấp, giống không chịu lạnh, ở độ nhiệt cao hơn. Độ ẩm không khí nơi bảo quản giữ trong giới hạn 85 - 90%.



Trước khi bán cho ng­ười tiêu dùng phải cho quả bơ chín ở độ nhiệt cao hơn ở nơi bảo quản.


ở nhiệt độ 20oC bơ chín sau 6 - 12 ngày, ở độ nhiệt 25 - 27oC quả chín sau 5 - 7 ngày.



Khuyến nông Lâm Đồng, 29/7/2010



cung cấp cây giống bơ sáp da xanh 19.000đ/cây , giao hàng cả nuớc 



Thế Giới Cây Giống . since 1993





20 năm tuyển chọn giống cây trồng







Địa chỉ : Ấp 14 , xã Long Trung , huyện Cai Lậy , tỉnh Tiền Giang



0906194819 Hòa ( phụ trách toàn quốc )



Chi nhánh Miền Đông : Ấp 3 , xã Trừ Văn Thố , huyện Bến Cát , tỉnh Bình Dương



0988868620 Nhẫn ( phụ trách Đông Nam Bộ)



http://giongbosap.blogspot.com/